Posted on June, 29 2026
Tại sao OECMs là yêu cầu cấp thiết lúc này?
Trong bối cảnh toàn cầu, thế giới đang chạy đua với thời gian để đảo ngược đà suy giảm đa dạng sinh học thông qua Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh - Montreal (KM-GBF). Mục tiêu 3 của Khung chiến lược này kêu gọi bảo tồn ít nhất 30% diện tích đất liền và biển của Trái Đất trước năm 2030 (Mục tiêu "30x30"). Cộng đồng quốc tế thừa nhận rằng, hệ thống các khu bảo tồn truyền thống không thể đáp ứng đủ phạm vi không gian cần thiết. Do đó, OECMs – các khu vực nằm ngoài khu bảo tồn nhưng được quản lý mang lại kết quả tích cực, bền vững cho tự nhiên – chính là mảnh ghép bổ sung đáng tin cậy nhất.
Tại Việt Nam, mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ năm 2026 diễn ra trong bối cảnh áp lực lên đa dạng sinh học ngày càng gia tăng do đô thị hóa và biến đổi khí hậu. Trong khi đó, 178 khu bảo tồn thiên nhiên hiện chỉ bao phủ khoảng 7% diện tích đất liền và 2,6% diện tích biển, còn cách khá xa mục tiêu "30x30". Vì vậy, việc thúc đẩy áp dụng OECMs sẽ góp phần mở rộng không gian bảo tồn, bảo vệ các khu vực có giá trị đa dạng sinh học ngoài hệ thống khu bảo tồn, đồng thời tạo cơ hội để cộng đồng tham gia quản lý và phát triển các mô hình kinh tế xanh, du lịch sinh thái.
Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ OECMs?
Tính đến tháng 01 năm 2026, thế giới đã ghi nhận hơn 7.200 OECMs. Tại Việt Nam, OECM này đã được đề cập một phần trong Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030. Trong giai đoạn 2023-2025, Việt Nam đã bước đầu có các cuộc thảo luận về OECM cũng như triển khai khảo sát thực địa, đánh giá tiềm năng tại một số địa phương như Quảng Ninh, Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng và đồng bằng Sông Cửu Long.
Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn chưa ban hành các hướng dẫn kỹ thuật, tiêu chí xác định và cơ chế báo cáo chính thức cho OECMs. Do vậy, các địa phương và tổ chức bảo tồn dù đã xác định được nhiều khu vực OECMs có tiềm năng,như các vùng đất ngập nước hay rừng cộng đồng, vẫn chưa có căn cứ để đánh giá, công nhận và báo cáo một cách hợp pháp.
Đây chính là lý do cấp thiết để Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng WWF-Việt Nam, thông qua dự án “Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong thực hiện mục tiêu Khung Đa dạng sinh học toàn cầu và Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học tại Việt Nam” (MiB-GBF) tổ chức hội thảo này. Đây không chỉ là diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, mà còn thể hiện sự quyết tâm của nhà nước trong việc khẩn trương tháo gỡ các “rào cản” để OECM có thể thực sự phát huy hiệu quả tại Việt Nam.
Tại hội thảo, ông Bùi Chính Nghĩa, Cục trưởng Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: “Việt Nam, ngoài việc thiết lập hệ thống các khu bảo tồn biển, khu rừng ngập mặn là rừng đặc dụng, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản thì sẽ còn rất nhiều các khu vực khác có thể áp dụng các biện pháp bảo tồn thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, ổn định đời sống cho người dân với bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, chính vì vậy, Hội thảo ngày hôm nay có ý nghĩa quan trọng, là cơ hội để cùng chia sẻ kiến thức, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn và học hỏi các bài học quốc tế, đặc biệt từ những quốc gia đã thực hiện tốt các giải pháp quản lý các khu vực ngoài khu bảo tồn. Kết quả thảo luận của Hội thảo sẽ cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng, góp phần hỗ trợ Việt Nam từng bước hoàn thiện cách tiếp cận và thúc đẩy triển khai OECM phù hợp với điều kiện quốc gia.”
Là một địa phương có nhiều khu vực OECM tiềm năng, bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng cho biết: “ Đối với Đà Nẵng, cách tiếp cận OECM này đặc biệt phù hợp. Thành phố có lợi thế lớn về hệ sinh thái rừng - biển - sông - đô thị, và đặc biệt là các cộng đồng địa phương có tri thức bản địa, sinh kế gắn với tài nguyên thiên nhiên. Nếu tổ chức tốt cơ chế đồng quản lý và chia sẻ lợi ích, bảo tồn có thể trở thành một trụ cột của phát triển xanh, kinh tế sinh thái và du lịch bền vững, thay vì chỉ được nhìn nhận như một nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên đơn thuần. Đà Nẵng có thể chủ động chuẩn bị trước về mặt dữ liệu, bản đồ, hiện trạng quản lý, chủ thể quản trị, giá trị đa dạng sinh học và mức độ tham gia của cộng đồng để khi Trung ương ban hành hướng dẫn về OECMs, thành phố có thể nhanh chóng đề xuất các mô hình thí điểm phù hợp.”
Ông Văn Ngọc Thịnh, Tổng Giám đốc WWF-Việt Nam chia sẻ tại hội thảo: “Qua quá trình đồng hành cùng các đối tác tại Việt Nam, đặc biệt ở khu vực Trung Trường Sơn, WWF-Việt Nam nhận thấy rằng bảo tồn sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi các khu bảo tồn được kết nối với những khu vực tự nhiên có giá trị đa dạng sinh học đang được quản lý tốt bởi nhiều chủ thể khác nhau. Theo kinh nghiệm đó, chúng tôi tin rằng OECM là một cách tiếp cận quan trọng để mở rộng hiệu quả bảo tồn ở quy mô cảnh quan, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia và quốc tế về đa dạng sinh học. Với nền tảng chính sách đã được hình thành, sự quan tâm của các cơ quan quản lý, các địa phương và sự đồng hành của nhiều đối tác, chúng tôi tin rằng đây là thời điểm rất thuận lợi để Việt Nam từng bước đưa OECM vào thực tiễn.”
Ông cũng nhấn mạnh mong muốn của WWF-Việt Nam được tiếp tục đồng hành cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa phương và các đối tác để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm quốc tế, hỗ trợ quá trình học hỏi và hoàn thiện các cách tiếp cận phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.